Tháng bảy lại đến, mang theo cơn mưa của mùa Vu
Lan Báo Hiếu. Khiến lòng người thêm phần lắng động giữa những ngày đầu thu xe lạnh
.Trong không khí trầm mặc này, ai trong chúng ta cũng chạnh lòng về Cha Mẹ, những
bậc sinh thành đã hy sinh cả cuộc đời mình để nuôi nấng, dưỡng dục con cái.
Những Người Cha, Người Mẹ đã quá cố hay còn hiện
tiền đều khiến trái tim chúng ta bồi hồi. Hai tiếng Vu Lan thật gần gũi, thân
thương như khơi gợi trong lòng mỗi người một nỗi nhớ về Mẹ - Người đã dành trọn
đời để yêu thương, bao bọc chúng ta. Trong trái tim mỗi người. Mẹ luôn là hình ảnh cao quý, thiêng liêng nhất.
Mẹ là quê hương, là nguồn cội, là tất cả.
Tình thương của Mẹ như dòng sông không bao giờ cạn.Luôn
chảy mãi nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta từ thủa ấu thơ đến khi trưởng thành.
Có lẽ chính vì vậy mà một người nhạc sĩ nào đó
đã phải thốt lên rằng: “…Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình...”. Biển Thái Bình
có bao nhiêu nước, thì lòng Mẹ thương con cũng mênh mông bấy nhiêu. Công ơn
sinh thành,dưỡng dục của Mẹ, của Cha chúng ta làm sao kể hết. Người xưa từng
nói: “Còn Cha gót đỏ như son, một mai Cha mất gót con đen sì…”
Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau, Mẹ đã trải
qua biết bao nhiêu gian khổ nhọc nhằn. Khi con chào đời Mẹ đã không quản ngày
đêm lo lắng, chăm sóc từng chút một, từ lúc con ốm đau đến khi con khôn lớn,trưởng
thành “…Bên ướt Mẹ nằm, bên ráo con lăn…”
Mẹ như một vị Bác Sĩ tận tâm luôn bên con, ru con
vào giấc ngủ bình yên. Cả cuộc đời Mẹ là những tháng ngày hy sinh vô bờ bến chỉ
để con được sống vui vẻ, hạnh phúc.
Người ta thường nói: Nước biển mênh mông không
đong đầy tình Mẹ, mây trời lồng lộng không phủ kính công Cha. Cha là núi Thái
Sơn- Mẹ là nước trong nguồn, công lao ấy cả đời con không thể nào đền đáp hết
được.
Cha Mẹ ơi! Chúng con đã sinh ra trong vòng tay
yêu thương, che chở của hai người. Dù Cha Mẹ có chịu phải bao đớn đau, lo âu.
Nhưng khi con thơ cất tiếng chào đời, niềm hạnh phúc lại tràn ngập trong lòng
hai người. Con là niềm vui, là niềm tự hào, của Mẹ, của Cha. Thế nhưng khi lớn lên, chúng con vô tình quên đi công
ơn ấy, chúng con đã quen với sự chăm sóc yêu thương của Cha Mẹ, mà nghĩ rằng đó
là điều hiển nhiên, là bổn phận của Cha Mẹ,mà không nhận ra ơn nghĩa sâu dày
này. Chúng con đã ích kỷ, chỉ biết
nghĩ cho bản thân mình, mà không nghĩ đến Cha già, Mẹ yếu. Với những đêm dài lạnh giá, Cha Mẹ cứ mãi ngóng trông
con về, nhưng con vẫn cứ mãi chạy theo những thú vui bên ngoài. Khi thất bại, thua kém với bạn bè,chúng con lại oán
trách Mẹ-Cha. Nhưng Cha- Mẹ với
lòng bao dung, chỉ biết nhìn con rồi mỉm cười. Nụ cười ấy đã che dấu đi những
giọt nước mắt xót xa vì thương con, lòng dạ Cha Mẹ quặn thắt nhưng không bao giờ
trách mắng…
Than ôi! Tội bất hiếu là lớn nhất trong đời. Khi
Cha Mẹ đã già yếu, chỉ biết nương tựa vào con cái,nhưng con cái lại coi đó là
gánh nặng, mà bạc đãi, khinh khi…
Có ai còn nhớ lại thời ấu thơ, ai là người đã dưỡng
dục, chở che cho mình? Và rồi khi Cha Mẹ mất đi thì không còn được che chở nữa. Hạnh phúc biết bao khi ai còn Cha còn Mẹ,khi ai
còn được cài trên ngực áo mình đóa hoa hồng đỏ thắm. Dù Cha –Mẹ đang ở
bên chúng ta hay rời đi, lòng tri ân và nhớ về họ không bao giờ dứt. Nhưng một
điều quan trọng mà không chỉ để tưởng nhớ và tri ân vào ngày LễVu Lan, chúng
ta cần thể hiện sự quan tâm và chăm sóc đến Cha Mẹ mỗi ngày.
Thời gian thấm thoát thoi đưa, hãy trân quý từng
phút giây được ở bên Cha –Mẹ./.
Nhớ Về Anh Như Tâm - Nguyễn Khắc Từ
Thứ nhất nhớ đến anh,
em không quên nghiêng mình đa tạ, người một thời em hết mình cộng sự và được
anh nhắc nhở cách khắc phục khó khăn và xem thường chướng ngại trên con đường
hóa giải để vươn lên. Người lãnh đạo biết khả năng và đánh giá không sai tài
năng của bạn đồng hành mà dụng nhân như dụng mộc, đúng thời thì cất tiếng như
sư tử hống, đã bao lần làm xáo động buông rèm mà phán quyết thay bậc thượng
nhân mà dẹp loạn can qua, chuyển thời cuộc vượt qua bão giông. Đặc biệt không
bao giờ chạm đến sở đoản của thiện hữu và sẳn sàng tán thán, những tài năng cần
được phát huy. Nên trên thì chư Tôn và Huynh trưởng đàn anh tin dùng, dưới thì
được sự trung tín cộng sự, đặc biệt là không bao giờ làm chướng ngại con đương
thăng hoa của đàn em..
Anh ốm gầy thấp nhỏ, nhưng
tầm nhìn thì xa rộng vút lên cao làm kẽ khác phải vội ngước nhìn. Anh mở trại
sáng tác thu chất xám của Lam Viên mới có được những tác phẩm vượt thời gian
như Sứ Mạng Áo Lam của Lữ Hồ hay Bài ca cuối lửa, đêm giã từ ( Tâm Lạc - Nguyễn
Đình Luyện) xoáy vào tận sâu tư duy người đã đọc hay lắng nghe mà sẳn sàng nhã
tơ tạo keo sơn gắn bó còn hơn là được vàng được bậc được chức được danh. Bài ca
ấy được coi như bất hủ trong kho tàng sáng tác trại ca mà tài năng như anh Lê
Cao Phan cũng đã từng nói với em như vậy. Anh nhận quà của ai thì chia sẻ cho
ACE với sự quyết đoán sáng suốt và sẳn sàng chịu búa rìu của dư luận miễn kết
quả đạt được ích mình lợi người một cách nhân bản nhân văn.
Tác phẩm anh viết đề
tài rất nhỏ cuốn Đội trưởng nhưng công năng không khác gì viên đạn xuyên phá mở
hết cửa nẽo để tâm hồn tuổi trẻ nở hoa, tay trong tay cùng chung chí hướng để
cho thuyền đời mặc sức ra khơi..
Cuốn Gia trưởng cũng
chỉ nhỏ thôi nhưng gói gọn bao tâm huyệt khơi nguồn đạo mạch dựng xây ngôi nhà
Lam vững chắc vươn cao tỏa rộng trên địa bàn khắp cả năm châu.
Chỉ có anh mới thấy
tài năng và dám dùng thầy Minh Tâm khi còn mang cấp tập vào làm Ủy Viên Ban
Hướng Dẫn Thừa Thiên. Gia Đình Phật Tử Việt Nam một tổ chức giáo dục Thanh –
Thiếu – Đồng Niên, càng sự đóng góp nhiệt tình của tuổi trẻ đề Sen Trắng nảy mầm trên đất, nảy mầm trên biển mặn bao la như
Khiêm như Quốc,Yến . . . đã cho ra sen biển như là đa tạ kính dâng anh.
Cuốn Hành Chánh trong
GĐPT nhưng từ hình thức cho đến nội dung mang tầm chiến lược đọc qua ai cũng
hiểu:
Hành Chánh Tổ Chức
Hành Chánh quản trị
điều hành.
Hành Chánh tài chánh
Và cuối cùng là huấn
thị điều hành vạch rõ vai trò trách nhiệm bổn phận cho từng ủy viên. Tuổi trẻ
hôm nay tài cao học vị học hàm chức tước địa vị lớn nhưng thông suốt những vấn
đề này rõ thật không nhiều. Cần tổ chức hội thảo chuyên môn để dựng lại cơ đồ
rất mong lắm thay.
Giổ tổ Hùng Vương đã
qua rồi, nhưng đền Hùng còn đó.
Nguyễn Du đã không còn
nhưng Truyện Kiều còn đây.
Bác Tâm Minh đã ra đi
nhưng Gia Đình Phật Tử Việt Nam vươn tầm ra cả Thế Giới cũng do vì Tâm thành
tất cả, tướng mà không ngoài chơn NHƯ, như tâm anh kính yêu./.
Thích Trúc Thạnh Không.
(Cung kính tưởng niệm anh Tâm Vinh Đoàn Văn Lộc).
Sau biến cố 1975, năm ACE của chúng tôi là ( Như Tâm - Nguyễn Khắc Từ, Nhật Thường -Nguuyễn Quang Tú, Nhật Hồng - Nguyễn Để, Tâm - Chánh Hoàng thị Kim Cúc và Tâm Vinh - Đoàn văn Lộc) không thần thông, chỉ bắng bước chân trần, không tiền không thế lực, nhưng có mặt khắp mọi miền đất nước Việt Nam, tưới tẩm ươm mầm cho SEN TRẮNG (dù là rên đất đá, hay duyên hải cát trắng, hay cao nguyên đất đỏ). Hãy cắm chốt ở đó, tự trui rèn chính mình, chờ cơ hội nở hoa.
Như Tâm - Nguuyễn Khắc Từ, thân tứ đại nhỏ xíu, lại ốm o gầy gò nhưng là chiến lược gia chuyên gầy dựng cơ sở, trao trách nhiệm truyền thưa, ngoài thế gian không thấy vì hai mắt đều hư nhưng tâm tư sáng tỏ nào khác A Na Luật cần phải thấy điều chi, cần phải làm việc gì, cần ủy thác cho ai để LAM SỰ tiếp nối được kích hoạt chu toàn.
Nhật Thường - Nguyễn quang Tú, đồng bệnh và đồng tuổi Như Tâm - Nguyễn khắc từ nhưng là tướng Tiền Phương, có quân và trú xứ có lắm nhiều trại trường, chư Tôn Đức kính thương hà hơi và tiếp sức, nên sinh hoạt kiên cường, từ ngày đầu sáng lập (1964) mãi cho đến hôm nay, chưa một ngày ngừng nghĩ. Huynh Trưởng lãnh đạo hôm nay, Quốc Nội và Hải Ngoại, lẫn cả toàn thế giới, chịu gian lao, chịu gian khổ, chịu nhục nhằn, đắng cay, nhưng vẫn chắc tay lái, luôn giữ vững tay chèo vẫn tiến lên và không hề bỏ cuộc.
Chị Tâm Chánh là người lớn tuổi nhất là bà chị lãnh đạo là một nhà tâm lý học tuyệt vời chẳng cần phải lý thuyết, không lý luận dài dòng, không mệnh lệnh chỉ đạo mà chỉ nhờ các em làm giúp, và khuyến tấn nên làm hy vọng sẽ thành công.
Tâm Vinh - Đoàn Văn Lộc .Quyền Tổng Thư Ký điều hành thế anh Tâm Huệ - Cao Chánh Hựu đang lao lý tù đày. Anh là người chị Cúc thương và giao cho nhiệm vụ làm cái chân đưa chị tại Sài Gòn hay đến những chuyến đi. Chị Cúc và anh Lộc cùng chung một quan điểm” Giờ nào việc nấy, đừng ăn cắp thời gian của bất cứ ai” không để bất cứ ai chờ và không rời nhiệm sở khi chưa đến giờ tan tằm.
Thời bao cấp ai ai cũng biết ở bệnh viện thủ tục rườm rà, cơ chế cứng nhắc, nhưng khi chị Cúc xuất viện, Bác sĩ y tá tiển đưa chị với lời thiết tha: “Chúng tôi đã hết lòng, nhưng lực bất tòng tâm,chúng tôi không biết bà cụ là ai, nhưng trên từ lãnh đạo, dưới đến bác xích lô, rồi văn nhân nghệ sĩ và lãnh đạo tôn giáo tất cả đều nhờ đến chúng tôi hãy tận lực giúp cho.”
Tâm Vinh - Đoàn Văn Lộc Tổng thư ký điều hành mà không cần quyết nghị và không cần văn thư, cũng chẳng cần máy phát điện thoại ghi âm.
Nhât Hồng - Nguyễn Để nhà tổ chức và điều hành tuyệt vời, bởi chẳng cần kế hoạch, cũng chảng cần chương trình, nhưng tuyệt đối bảo mật và chính anh đã thay đổi địa điểm và điều hành thành công đại hội bỏ túi năm 1995. Trong một lần ghé thăm và kể lại Đại Hội bỏ túi này ngài dạy: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hòa Thượng thượng Trí hạ Quang là nhà Tổ chức vẽ phát đề án kế hoạch và chương trình nhưng người thực hiện tuyệt vời là Hòa Thượng Thích Thắng Hoang là số một.
Ngoài ra còn có anh Nguyên Ngộ - Nguyễn sĩ Thiều, lập trường vững chải, tính toán sâu sắc, rất tiếc là đa nghi hội nhập chậm (1995). Nhưng lịch sữ đã sang trang rồi.
Anh Tâm Vinh Kính. Viết về anh ít quá,nhưng sâu kín trong lòng anh cũng chỉ muốn vậy.Anh Tâm Huệ,chị Tâm Chánh cũng thế,nhưng em không thể không viết vì tấm gương cao cả nhất là tấm gương trong sáng không một vật,và thần tượng rốt ráo nhất mà ACE ta luôn tôn thờ là: THẦN TƯỢNG KHÔNG CHÂN DUNG. Và như thế,anh đưa cao tay,vẫy chào đi vào Lạc Bang anh kính yêu./.
Thiền Viện CHÍNH PHÁP TUYÊN QUANG,
Thích Trúc Thạnh Không.
![]() |
Trong Kinh Pháp Cú có một số bài khá phong phú đề cao chánh pháp vì chánh pháp đóng một vai trò rất quan trọng trong trách nhiệm phát huy chánh kiến, tu tập trí tuệ, đưa người hành giả dần đến mục đích giác ngộ và giải thoát. Chánh pháp cũng giữ một vai trò rất quan trọng trong trách nhiệm hướng dẫn quần sinh. Chúng ta nhớ lại lời căn dặn của Ðức Phật trong kinh Ðại Bát Niết Bàn: “Này A Nan, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa người khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ tựa.”
Nhờ chánh pháp người trí được an tịnh. Truyện tích kể rằng một thiếu nữ về nhà chồng không được bên chồng chấp thuận vì không có của hồi môn (theo tập tục thời bấy giờ ở Ấn Ðộ). Mẹ cô đã dâng tất cả sự nghiệp đến chư Tăng. Người thiếu nữ bị hất hủi, cho rằng các Tăng đã hại hạnh phúc của cô, cô đâm ra thất vọng và nguyền rủa các Tăng. Ðức Phật thuyết pháp cho cô nghe và tâm cô trở nên an tịnh:
Như là hồ nước thẳm sâu
Phô dòng phẳng lặng, khoe màu sạch trong
Những người có trí, có lòng
Khi nghe chánh pháp cũng không khác gì
Thân tâm tịnh lạc kể chi.
(Pháp Cú 82).
Khi lời giáo huấn được giảng bày minh bạch, những người theo chánh pháp mà tu hành sẽ vượt khỏi kiếp sống trần tục, nơi mà dục vọng chế ngự và thường là khó thoát, để qua được đến bờ bên kia là cõi Niết Bàn, được giải thoát hoàn toàn. Những người có tâm đạo, cùng ở dọc theo một con đường nọ, quyết định để bát cúng dường chư Sư và nghe giảng giáo pháp suốt đêm. Nhưng khi về khuya vài người không chịu nổi nên trở về nhà. Vài người khác ở lại nhưng không ngớt ngủ gục. Nghe câu chuyện, Ðức Phật dạy:
Ai mà có đủ duyên may
Được nghe chánh pháp giảng bày phân minh
Đúng theo chánh pháp tu hành
Sẽ mau thoát cảnh tử sinh bờ này
Trùng dương dục vọng vượt ngay
Bên kia bờ giác dang tay đón chờ.
(Pháp Cú 86).
Sống một ngày mà chứng ngộ trạng thái bất diệt của cõi Niết Bàn là không sinh, không già, không chết, quý hơn sống cả thế kỷ mà không chứng. Một thiếu phụ trẻ tuổi mất đứa con duy nhứt. Bà ôm con chạy đi tìm phương cứu chữa. Bà đưa con đến Ðức Phật cầu cứu và Ngài khuyên bà nên tìm cho Ngài một ít hột cải trong nhà nào chưa từng có người chết. Hột cải thì bà tìm được, nhưng không gặp nhà nào chưa từng có người chết. Ánh sáng chân lý bừng phát sinh. Khi trở về được nghe giảng giáo pháp, bà xuất gia làm Tỳ-kheo-ni. Ngày kia, khi nhìn một ngọn nến cháy chập chờn trước gió bà suy niệm về lý vô thường của đời sống. Ðức Phật dạy:
Trăm năm sống chẳng nhận ra
Pháp kia bất tử, thật là uổng thay!
Chẳng bằng sống chỉ một ngày
Mà rồi giác ngộ thấy ngay Niết Bàn
Nơi bất diệt, đẹp vô vàn
Không trò bệnh lão, không màn tử sinh.
(Pháp Cú 114).
Một ngày nhận thấy giáo pháp chân lý tối thượng quý hơn sống cả thế kỷ không thấy. Một thiếu phụ khá giả có đông con, bảy trai và bảy gái. Theo lời yêu cầu của các con bà phân phối hết tài sản cho chúng vì chúng hứa sẽ cung phụng bà đầy đủ. Nhưng về sau những đứa con bất hiếu ấy lãng quên, không chăm sóc bà. Bà hết sức thất vọng và xuất gia làm Tỳ-kheo-ni. Bà chuyên cần suy niệm về giáo pháp. Ðức Phật giảng cho bà tầm quan trọng của chánh pháp:
Trăm năm sống chẳng nhận ra
Pháp kia tối thượng, thật là uổng thay!
Chẳng bằng sống chỉ một ngày
Mà hay rằng giáo pháp đầy thâm sâu
Dạt dào chân lý tối cao.
(Pháp Cú 115).
Một câu chánh pháp dù ngắn cũng hữu ích. Người kia đi biển, thuyền bị đắm, cố gắng nhọc nhằn lắm mới lội được vào bờ. Không còn quần áo, ông lấy vỏ cây che đỡ thân mình. Dân làng thấy ông ăn mặc như vậy tưởng lầm ông là một vị A La Hán. Nhận định sự điên cuồng ấy, ông tìm yết kiến Ðức Phật. Ngài đang trên đường đi khất thực nhưng thấy đủ cơ quyên nên dừng lại bên đường giảng vắn tắt cho ông một bài pháp ngắn. Được cảm hóa bằng những lời dạy hữu ích, đầy trí tuệ, tâm ông khai ngộ và đắc quả A La Hán. Các Tỳ-kheo ngạc nhiên về ích lợi của bài pháp ngắn. Đức Phật dạy “Ngàn câu vô dụng không bằng một câu hữu ích”:
Kệ kia nói đến ngàn câu
Nếu đều vô nghĩa, ích đâu cho đời
Một câu nói cũng đủ rồi
Nếu đầy nghĩa lý, mọi người mừng thay
Nghe xong tâm tịnh lạc ngay.
(Pháp Cú 101).
Một Tỳ-kheo sống trong rừng chỉ thuộc một câu kinh và trong những ngày giới thường đọc câu ấy. Chư Thiên trong vùng hết lòng hoan nghênh. Hai Tỳ-kheo khác, vốn thuộc nhiều kinh kệ, cũng đến nơi ấy thuyết pháp nhưng không được chư Thiên hoan nghinh. Bất mãn, hai vị bỏ đi. Khi trở về bạch lại với Ðức Phật về thái độ của chư Thiên. Ngài dạy “Chánh pháp là để hành trì chớ không phải để nói suông”:
Nào đâu cứ phải nói nhiều
Là người chánh pháp chuyên theo hộ trì
Ai tuy ít học, ít nghe
Nhưng mang chánh pháp quyết đi thực hành
Chẳng buông lung, rất tâm thành
Hộ trì như vậy xứng danh hàng đầu.
(Pháp Cú 259).
Nhờ chánh pháp soi đường, nên trí tuệ phát triển, có thể chiến thắng ma quân dục vọng và cuối cùng đưa đến giác ngộ và giải thoát. Nhiều Tăng sĩ đang hành thiền trong rừng bị các vị Trời ngụ trên cây làm chao động, họ trở về thỉnh giáo với Ðức Phật. Ngài khuyên các thầy nên rải tâm từ đồng đều đến tất cả. Hành đúng lời dạy, về sau những vị ấy được chư Thiên hộ trì. Đức Phật dạy “Nên nhớ rằng thân ta mong manh như cái lọ sành. hãy giữ tâm mình vững như thành trì”:
Thân như đồ gốm mong manh
Giữ tâm cho vững như thành vây quanh
Với gươm trí tuệ tinh anh
Hãy mau đánh dẹp tan tành quân Ma
Dẹp Ma dục vọng quấy ta
Thắng rồi nỗ lực để mà tiến thêm
Giữ gìn chiến thắng cho bền
Vượt vùng luyến ái, thoát miền nhiễm ô.
(Pháp Cú 40).
Sống theo chánh pháp thời tiếng lành gia tăng. Vùng kia bị dịch hạch hoành hành. Vợ chồng viên chưởng khố trước khi chết chỉ cho con trai chỗ chôn kho tàng và bảo con trốn đi mới thoát chết. Mười hai năm sau chàng con trở về. Tuy giàu có nhưng sợ nguy đến bản thân nên sống khiêm tốn, đi làm công lam lũ. Nhà vua có tài nhận biết người khi nghe tiếng nói. Nghe tiếng anh nói, vua biết đây là một người giàu có. Về sau vua điều tra và tìm ra sự thật. Vua bổ nhiệm anh làm chưởng khố và gả công chúa cho. Khi anh được vua giới thiệu đến Đức Phật thì Đức Phật diễn tả những đặc tính của người sung túc như sau:
Luôn cố gắng, chẳng buông lung
Nghĩ suy chín chắn, tấm lòng hăng say
Bản thân tự chế hàng ngày
Sống theo chánh pháp, tốt thay cuộc đời
Tiếng lành tăng trưởng mãi thôi.
(Pháp Cú 24).
Ðức Phật là bậc đạo sư vĩ đại. Ngài đã khám phá ra con đường xuyên qua cánh rừng vô minh đen tối, và muốn chỉ cho chúng ta thấy con đường đó nếu chúng ta có đủ trí tuệ sáng suốt để lắng nghe những gì Ngài nói. Nước biển mênh mông vô tận nhưng đều bắt từ nguồn. Dù là nước trăm sông nhưng đều đổ về biển cả và thuần một vị, đó là vị mặn. Giáo pháp Ðức Phật thuyết giảng trong gần nửa thế kỷ cũng thế, dù nhiều vô lượng nhưng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát, là Bồ Ðề, là Niết Bàn tịch tĩnh.
Với lòng từ mẫn thương xót chúng sinh, Đức Phật thấy rõ chúng sinh ít người bỏ ác làm lành, ít người hướng tìm giải thoát. Trong nhân loại rất ít người qua được đến bờ bên kia là bờ giải thoát giác ngộ, là cõi Niết Bàn. Phần đông đám người còn lại chỉ cam tâm quanh quẩn xuôi ngược ở bờ bên này, là bờ của bất thiện, của trói buộc, của đau khổ, của cảnh giới sinh tử trần gian. Phần đông sinh trở đi trở lại trên thế gian này.
Truyện tích kể rằng những người có tâm đạo, cùng ở dọc theo một con đường nọ, quyết định để bát cúng dường chư Sư và nghe giảng giáo pháp suốt đêm. Nhưng khi đêm về khuya vài người không chịu nổi nên trở về nhà. Một số thì lo hờn lo giận. Vài người khác ở lại nhưng không ngớt ngủ gục, không một giọt pháp nào lọt vào tai. Nghe câu chuyện, Ðức Phật giải thích bản chất của người thế gian:
Đám đông nhân loại quanh ta
Ít người đạt được tới bờ bên kia
Còn bao kẻ khác kể chi
Ngược xuôi quanh quẩn sớm khuya bờ này
Trầm luân sinh tử thương thay!
(Pháp Cú 85).
Con đường Giới Ðịnh Tuệ của đạo Phật dẫn khách lữ hành dấn thân trên đạo lộ giải thoát, tiến dần đến Niết Bàn, đích cứu cánh của mọi con đường, một trạng thái an lành giải thoát chờ đợi người lữ hành.
Truyện tích kể rằng nhân dịp làm hôn lễ cho người con gái trẻ tuổi, gia đình nọ thỉnh Ðức Phật và tám mươi vị Tỳ-kheo về nhà để cúng dường. Trong lúc thấy cô dâu đang lăng xăng lui tới mải tiếp khách thì chú rể đứng nhìn cô dâu chăm chăm, trong lòng rộn rã và sinh lòng tham dục, chỉ say đắm nghĩ đến cô gái, không để hết lòng thành vào việc dâng cúng. Ðức Phật nhận thấy ý tưởng xấu ấy nên dạy rằng “Không lửa nào bằng lửa tham dục, không ác nào bằng lòng sân hận, không khổ nào bằng khổ ngũ uẩn, không vui nào bằng vui an tịnh Niết Bàn”:
Lửa nào lại sánh được ngang
Lửa tham, lửa dục, cháy tan dữ dằn
Ác nào lại sánh cho bằng
Ác sân, ác hận, hung hăng oán hờn
Khổ nào lại vượt được hơn
Khổ thân ngũ uẩn hợp tan sớm chiều,
Vui kia so sánh đủ điều
Sao bằng vui chốn cao siêu Niết Bàn.
(Pháp Cú 202).
Một cô gái làm công, phải làm việc vất vả suốt ngày đến lúc đêm khuya, bước ra ngoài cửa, để ý thấy nhiều vị Tăng sĩ thấp thoáng qua lại trên một ngọn đồi gần đó. Cô tự nghĩ: “Ta không ngủ được vì công chuyện bề bộn mệt nhọc, còn các vị Sư kia, tại sao cũng không ngủ được”. Về sau cô có dịp cúng dường bánh cho Ðức Phật và được nghe Ngài giải thích là các vị Tỳ-kheo vẫn thức đêm, không ngủ vì phải luôn luôn tỉnh giác và chuyên cần tu tập, tâm trọn vẹn hướng về Niết Bàn để mọi phiền não đều dứt sạch:
Những người giác tỉnh thường xuyên
Dốc lòng tu tập ngày đêm chuyên cần
Quyết tâm hướng đến Niết Bàn
Thì bao phiền não tiêu tan chẳng còn.
(Pháp Cú 226).
Một anh nông dân nghèo đến nghe Ðức Phật thuyết Pháp trong lúc bụng đói. Trước khi bắt đầu thời pháp Ngài gọi người dọn cơm cho anh ăn. Nhân cơ hội, Ngài giảng rằng “Thông thường, mỗi khi đau ốm người ta dùng một vị thuốc thích hợp làm cho bệnh thuyên giảm và chấm dứt. Nhưng cái đói thì không bao giờ dứt, suốt đời, hễ no rồi lại đói. Thân con người là nguồn gốc của lo âu và sầu khổ. Nếu biết rõ hai điều ấy ta sẽ thấy Niết Bàn là nơi an lạc cao nhất”:
Đói là chứng bệnh lớn lao
Vô thường ngũ uẩn khổ đau nhất đời
Nếu ai hiểu đúng vậy rồi
Coi như đạt đến cực vui Niết Bàn.
(Pháp Cú 203).
Chúng ta thường quan niệm Niết Bàn như một cảnh giới, một cõi nào đó cao cấp hơn cõi người, như là cõi thiên đường của các tôn giáo khác, đó là một sai lầm lớn. Niết Bàn vượt thoát mọi khái niệm đối đãi về thời gian, không gian, có, không, lớn, nhỏ… Dù vậy, Niết Bàn không phải là hư vô, mà là một thực tại thanh tịnh, siêu việt, không nằm trong phạm vi phân biệt của ý thức, hay nói cách khác, không thể nhận thức được Niết Bàn khi đang còn tham, sân, si. Một vị Thiền Sư nói: “Hãy nhìn những rặng núi, những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nhìn mọi vật với một nhãn quan mới, một nhãn quan không bị chi phối bởi tham sân si, thì cảnh đẹp kia chính là Niết Bàn đó! Niết Bàn không phải là một nơi chốn nào khác biệt với thế gian, một cảnh giới nào mà người ta có thể tìm đến. Niết Bàn chính là ở đây.” Ðức Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán đã đạt Niết Bàn ngay trong đời sống này. Ðiều đó nghĩa là Niết Bàn nằm ngay trong tầm tay của mỗi người. Biểu hiện của Niết Bàn là không còn tạo nghiệp và không còn tái sinh.
“Niết Bàn tức sinh tử, sinh tử tức Niết Bàn”. Câu kinh thâm thúy mới đọc tưởng như mâu thuẫn. Thật ra lúc mê thì sinh tử, khi ngộ là Niết Bàn, hai cảnh sinh tử và Niết Bàn không phải là hai nơi xa cách mà chỉ là một. Pháp nhiệm mầu của Đạo Phật là dạy cho con người biết cách chuyển mê thành ngộ, biến cải cảnh sinh tử đau khổ của thế gian thành cảnh an lạc, Niết Bàn của chư Phật.
Tâm Minh NGÔ TẰNG GIAO
nguồn thuviengdpt.info
ÂN TRIÊM PHÁP VŨ
Sáng ngày 24/2/2019, tại đại hùng bảo điện chùa Khánh Long, diễn ra buổi lễ trang nghiêm, phát nguyện thọ cấp cho 01 HTr tân thăng cấp Tín và 08 HTr tân thăng cấp Tập. Dưới sự chứng minh của Thượng tọa trú trì, và dưới sự chứng tri của quý anh chị: HTr cấp Tấn Tâm Minh – Phạm Xuân Hoàng, trưởng Ban Hướng Dẫn Bình thuận, 02 anh – chị phó trưởng BHD, quý HTr trong Ban thường vụ BHD, quý HTr đại diện HĐ HTr cấp Tấn, quý HTr đại diện HĐ HTr cấp Tín và quý HTr đại diện HĐ HTr HĐ cấp Tập GĐPT tỉnh Bình thuận.
NĂM HỢI NÓI CHUYỆN CON HEO
Con Heo là con vật cuối cùng trong 12 con giáp (Tý - Sửu - Dần, Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất – Hợi). Muốn lọt vào danh sách 12 con giáp,11 con đầu triển khai cao độ tần xuất thông minh, mưu mẹo sảo thuật, kỹ năng mới thành tựu. Riêng con Heo có khác:- Không tranh ăn với bất cứ loài vật nào mà lại còn nhường phần mình để đãi khách. Không cần làm việc mới có ăn.Thức ăn do con người đem dâng đến tận miệng.
- Không ỷ mạnh hiếp yếu, sống thuận thảo với mọi loài gia cầm gia sức khác. Không cần canh gác hay bảo vệ. Tất cả có ông bà chủ lo chu toàn.
- Không cần siêng năng thức khuya dậy sớm. Chỉ cần ăn khỏe ngủ kỹ chóng lớn là đạt yêu cầu.
- Không có bổn phận trách nhiệm gì đối với bản thân, gia đình và chủ nhà, kể cả vấn đề duy trì nòi giống, chọn bạn tình hay lo cho tương lai. Những vấn đề này nhà chủ lo chu toàn một trăm phần trăm và còn được thưởng nếu làm tốt, sinh con đẻ cái nhiều và mạnh khỏe.
- Sống vô tư, không giận hờn sân si tận hưởng khoái lạc của cuộc sống đến giây phút cuối cùng của cuộc đời.
- Luôn luôn có mặt trên mọi sự kiện vui buồn trong cuộc sống con người như quan hôn tang tế .
- Chú em thử nghĩ loài súc sinh như chúng ta, sống đều phải ra sức phục vụ, kiệt sức thì họ bán cho lò sát sanh, nếu chết vì bịnh tật họ đem chôn xuống đất rồi trồng cây trái lên trên, còn ta ta hoàn toàn vô tư có thụ hưởng. Cuối đời họ phải tắm rửa cho ta sạch sẽ cạo lông trắng toát rồi quay rán cho thơm lừng đạt lên mâm cao tế thần tế thánh, ông bà tổ tiên. Ta sống họ lo cho hạnh phúc của ta, ta chết phục vụ cho cuộc sống tâm linh và tinh thần của họ và rút cùng là món nhậu khoái khẩu cho họ. Thế không là hỷ lạc thì còn gọi là thế nào!
Mừng xuân Kỷ Hợi, muốn có ấm no hạnh phúc vạn sự cát tường như ý quý vị phải học hạnh con heo. Tuyệt đối không nô lệ cơm áo cứ thét gào cơm áo phải đến tay. Cứ vô tư bình yên, luật của thiên nhiên là nước phải chảy xuống chỗ trũng, vô tranh vị chi thắng. Cuộc chiến thương mại, cuộc chiến quân sự cuộc chiến kinh tế,cuộc chiến quyền lực hạ màn chiến thắng không dành cho những thế lực thù địch đánh nhau.Hãy là người vô sự trong thế giới nhộn nhàng của chiến tranh./.
Niệm Hương
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Từ Bi thường gia hộ
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Tam Bảo thường gia hộ
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin nguyện Hộ Pháp thường ủng hộ.







































